Ung thư phổi giai đoạn 4 sống được bao lâu với thuốc mới đến năm 2026

Ung thư phổi giai đoạn 4 sống được bao lâu với thuốc mới đến năm 2026

19:23 - 16/07/2026

Ung thư phổi giai đoạn 4 sống được bao lâu? Cập nhật thời gian sống thêm với hóa trị, thuốc miễn dịch, thuốc đích EGFR, ALK và các phác đồ mới nhất năm 2026.

DI CĂN NÃO TRONG UNG THƯ PHỔI: CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CẬP NHẬT 2026
Cơ sở của các phác đồ kết hợp hóa chất trong ung thư phổi
Các loại di căn trong ung thư phổi
LUNG-RADS: Hướng dẫn an toàn cho phát hiện nốt phổi
KỶ NGUYÊN MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI TỪ HỘI NGHỊ ASCO 2026: NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI

Ung thư phổi giai đoạn 4 sống được bao lâu? Cập nhật các phác đồ mới năm 2026

Khi được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn 4, câu hỏi khiến người bệnh và gia đình lo lắng nhất thường là: “Còn điều trị được không?” và “Người bệnh có thể sống thêm bao lâu?”.

Trước đây, ung thư phổi giai đoạn 4 thường được xem là bệnh có tiên lượng rất xấu. Khi chưa có thuốc đích và thuốc miễn dịch, phương pháp điều trị chủ yếu là hóa trị, với thời gian sống thêm trung bình thường chỉ khoảng một năm.

Đến năm 2026, tình hình đã thay đổi rõ rệt. Nhiều bệnh nhân có thể kiểm soát bệnh trong vài năm. Một số người có đột biến gen phù hợp với thuốc đích có thể sống trên 3–5 năm, thậm chí lâu hơn.

Tuy nhiên, không thể dự đoán thời gian sống chỉ dựa vào chữ “giai đoạn 4”. Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào loại tế bào ung thư, đột biến gen, chỉ số PD-L1, vị trí di căn, thể trạng và khả năng tiếp cận các phác đồ điều trị tiếp theo.

Ung thư phổi giai đoạn 4 là gì?

Ung thư phổi giai đoạn 4 là khi tế bào ung thư đã lan ra ngoài phổi hoặc ngoài phạm vi các hạch vùng. Những vị trí di căn thường gặp gồm:

  • Não.

  • Xương.

  • Gan.

  • Tuyến thượng thận.

  • Màng phổi hoặc màng tim.

  • Phổi đối diện.

  • Nhiều cơ quan khác nhau.

Giai đoạn 4 không có nghĩa là mọi người bệnh đều có mức độ lan rộng giống nhau. Có người chỉ có một ổ di căn não hoặc một ổ di căn tuyến thượng thận. Trong khi đó, một số bệnh nhân có nhiều tổn thương tại gan, xương, não và màng phổi.

Những trường hợp chỉ có một hoặc một vài ổ di căn được gọi là di căn ít. Người bệnh có thể được điều trị toàn thân kết hợp phẫu thuật, xạ phẫu hoặc xạ trị định vị trong những tình huống phù hợp.

Trung vị sống thêm không phải là “thời hạn sống”

Khi đọc kết quả nghiên cứu, người bệnh thường gặp hai khái niệm:

Thời gian sống thêm toàn bộ – OS

Đây là thời gian từ khi bắt đầu điều trị đến khi người bệnh tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào.

Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển – PFS

Đây là khoảng thời gian người bệnh còn sống mà khối u chưa lớn lên hoặc chưa xuất hiện tổn thương mới.

Nếu một nghiên cứu cho thấy trung vị sống thêm là 24 tháng, điều đó không có nghĩa mọi người chỉ sống được 24 tháng. Con số này có nghĩa một nửa số bệnh nhân sống dưới 24 tháng và một nửa sống lâu hơn 24 tháng.

Trong thực tế, có người tiến triển sớm nhưng cũng có người kiểm soát bệnh 4 năm, 5 năm hoặc lâu hơn. Vì vậy, không nên xem số liệu trung vị là “thời hạn sống” của một cá nhân.

Hóa trị truyền thống giúp sống thêm bao lâu?

Trước thời kỳ thuốc đích và thuốc miễn dịch, hóa trị bộ đôi platinum là nền tảng điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 4.

Các phác đồ thường gặp gồm:

  • Carboplatin hoặc cisplatin kết hợp pemetrexed cho ung thư biểu mô tuyến.

  • Carboplatin kết hợp paclitaxel hoặc nab-paclitaxel cho ung thư biểu mô vảy.

  • Carboplatin hoặc cisplatin kết hợp gemcitabine trong một số trường hợp.

Với hóa trị đơn thuần, trung vị thời gian sống thêm toàn bộ thường vào khoảng 10–13 tháng. Thời gian kiểm soát bệnh thường khoảng 4–6 tháng, tùy thể trạng, mô bệnh học và mức độ đáp ứng.

Hóa trị có ưu điểm là tác dụng tương đối nhanh, giúp thu nhỏ khối u và cải thiện các triệu chứng như ho, khó thở, đau ngực hoặc đau xương.

Tuy nhiên, thuốc cũng tác động lên các tế bào bình thường đang phân chia, vì vậy người bệnh có thể gặp:

  • Giảm bạch cầu, thiếu máu hoặc giảm tiểu cầu.

  • Buồn nôn, chán ăn.

  • Mệt mỏi.

  • Rụng tóc.

  • Tê bì tay chân.

  • Tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Hóa trị vẫn giữ vai trò quan trọng trong năm 2026. Điểm khác biệt là hóa trị hiện nay thường được phối hợp với thuốc miễn dịch hoặc thuốc đích thay vì chỉ sử dụng đơn độc.

Thuốc miễn dịch thay đổi thời gian sống như thế nào?

Thuốc miễn dịch giúp hệ miễn dịch nhận biết và tấn công tế bào ung thư. Những thuốc thường được sử dụng trong ung thư phổi gồm pembrolizumab, atezolizumab, durvalumab và nivolumab.

PD-L1 từ 50% trở lên

Ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không có đột biến gen điều trị được và PD-L1 từ 50% trở lên, pembrolizumab đơn trị có thể là một lựa chọn phù hợp.

Các dữ liệu dài hạn cho thấy trung vị sống thêm toàn bộ có thể đạt khoảng 26–30 tháng, so với khoảng 13–14 tháng với hóa trị. Khoảng gần một phần ba bệnh nhân còn sống sau 5 năm.

Đây là bước tiến rất lớn so với thời kỳ chỉ có hóa trị.

Tuy nhiên, PD-L1 cao không đảm bảo chắc chắn thuốc sẽ hiệu quả. Một số bệnh nhân có thể không đáp ứng hoặc tiến triển nhanh. Nếu khối u lớn, nhiều triệu chứng hoặc có nguy cơ suy cơ quan, bác sĩ có thể lựa chọn hóa trị kết hợp thuốc miễn dịch để tăng khả năng thu nhỏ u sớm.

Hóa trị kết hợp thuốc miễn dịch

Với ung thư biểu mô tuyến không có đột biến gen điều trị được, phác đồ thường gồm:

Pembrolizumab + pemetrexed + carboplatin hoặc cisplatin, sau đó duy trì pembrolizumab và pemetrexed.

Trung vị sống thêm toàn bộ trong các nghiên cứu lớn vào khoảng 22 tháng, cao hơn rõ so với hóa trị đơn thuần.

Với ung thư biểu mô vảy, pembrolizumab kết hợp carboplatin và paclitaxel hoặc nab-paclitaxel giúp trung vị sống thêm đạt khoảng 16–17 tháng, so với khoảng 11 tháng khi chỉ dùng hóa trị.

Lợi ích quan trọng của thuốc miễn dịch không chỉ nằm ở việc tăng thêm vài tháng trung vị sống thêm. Một nhóm bệnh nhân đạt đáp ứng bền vững và có thể sống nhiều năm mà bệnh vẫn được kiểm soát.

Có đột biến gen EGFR sống được bao lâu?

Đột biến gen EGFR thường gặp ở ung thư biểu mô tuyến phổi, đặc biệt ở người không hút thuốc hoặc hút thuốc ít.

Hai đột biến phổ biến nhất là:

  • EGFR exon 19 deletion.

  • EGFR exon 21 L858R.

Osimertinib đơn trị

Osimertinib là thuốc đích EGFR thế hệ 3, có khả năng kiểm soát tốt cả tổn thương ngoài não và di căn não.

Với osimertinib bước 1:

  • Trung vị thời gian bệnh chưa tiến triển khoảng 19 tháng.

  • Trung vị sống thêm toàn bộ khoảng 39 tháng.

  • Khả năng kiểm soát di căn não tốt hơn thuốc EGFR thế hệ cũ.

Như vậy, nhiều bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn 4 có đột biến gen EGFR hiện nay có thể sống trên 3 năm. Một số người đáp ứng tốt và sử dụng được nhiều bước điều trị có thể sống lâu hơn đáng kể.

Osimertinib kết hợp hóa trị

Phác đồ osimertinib kết hợp carboplatin hoặc cisplatin và pemetrexed giúp kéo dài thời gian kiểm soát bệnh lên khoảng 25,5 tháng, so với khoảng 16,7 tháng ở nhánh osimertinib đơn trị trong đánh giá độc lập.

Phác đồ này có thể được cân nhắc khi:

  • Gánh nặng khối u lớn.

  • Có nhiều vị trí di căn.

  • Có di căn não.

  • Có di căn gan.

  • Cần giảm khối u nhanh và sâu.

  • Người bệnh còn đủ thể trạng để chịu được hóa trị.

Đổi lại, nguy cơ giảm tế bào máu, mệt mỏi, buồn nôn và độc tính tích lũy sẽ cao hơn so với chỉ dùng osimertinib.

Amivantamab kết hợp lazertinib

Đây là một lựa chọn bước 1 mới cho bệnh nhân có đột biến gen EGFR exon 19 deletion hoặc L858R.

Amivantamab tác động vào EGFR và MET từ bên ngoài tế bào, trong khi lazertinib ức chế vùng kinase EGFR bên trong tế bào. Sự phối hợp này giúp khóa nhiều cơ chế truyền tín hiệu và trì hoãn kháng thuốc.

Phác đồ đã cho thấy thời gian kiểm soát bệnh dài hơn so với osimertinib đơn trị. Tuy nhiên, người bệnh cần được theo dõi các tác dụng phụ như:

  • Phản ứng khi truyền.

  • Phát ban.

  • Viêm quanh móng.

  • Phù.

  • Giảm albumin.

  • Huyết khối tĩnh mạch.

Lựa chọn giữa osimertinib đơn trị, osimertinib kết hợp hóa trị và amivantamab kết hợp lazertinib phải được cá thể hóa cho từng người bệnh.

Có dung hợp gen ALK: nhiều bệnh nhân chưa tiến triển sau 5 năm

ALK là một trong những nhóm ung thư phổi có bước tiến điều trị ấn tượng nhất.

Trong nghiên cứu CROWN, lorlatinib được so sánh với crizotinib ở bệnh nhân ALK dương tính chưa điều trị trước đó.

Sau 5 năm:

  • Khoảng 60% bệnh nhân dùng lorlatinib vẫn sống và chưa tiến triển.

  • Nhánh crizotinib chỉ đạt khoảng 8%.

  • Trung vị thời gian bệnh chưa tiến triển của lorlatinib vẫn chưa đạt tại thời điểm phân tích.

Đây là tỷ lệ sống không tiến triển, không phải tỷ lệ sống toàn bộ. Tuy nhiên, kết quả cho thấy một số bệnh nhân ALK dương tính có thể kiểm soát bệnh rất dài, kể cả khi đã có nguy cơ di căn não.

Lorlatinib có thể gây tăng cholesterol, tăng triglyceride, phù, tăng cân và một số rối loạn về nhận thức hoặc tâm trạng. Việc theo dõi và xử trí tác dụng phụ tốt giúp người bệnh duy trì thuốc lâu dài.

Các đột biến gen hiếm cũng có nhiều thuốc mới

Đến năm 2026, nhiều nhóm đột biến hiếm đã có thuốc điều trị riêng:

  • RET: selpercatinib hoặc pralsetinib.

  • ROS1: entrectinib, repotrectinib hoặc taletrectinib.

  • MET exon 14 skipping: capmatinib hoặc tepotinib.

  • BRAF V600E: dabrafenib kết hợp trametinib hoặc encorafenib kết hợp binimetinib.

  • HER2: trastuzumab deruxtecan, zongertinib hoặc sevabertinib trong những bối cảnh phù hợp.

  • NTRK: larotrectinib, entrectinib hoặc repotrectinib.

  • KRAS G12C: sotorasib hoặc adagrasib ở các bước điều trị phù hợp.

Điều này giải thích vì sao xét nghiệm gen diện rộng bằng NGS ngày càng quan trọng. Chỉ xét nghiệm một vài gen có thể khiến người bệnh bỏ lỡ một đột biến hiếm nhưng đã có thuốc điều trị.

Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn sống được bao lâu?

Ung thư phổi tế bào nhỏ thường tiến triển nhanh và tái phát sớm hơn ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Với hóa trị platinum–etoposide truyền thống, trung vị sống thêm thường khoảng 10 tháng.

Khi kết hợp atezolizumab hoặc durvalumab với hóa trị, trung vị sống thêm tăng lên khoảng 12–13 tháng. Mức tăng trung vị không quá lớn nhưng một nhóm bệnh nhân có thể kiểm soát bệnh lâu hơn.

Duy trì lurbinectedin kết hợp atezolizumab

Ở những bệnh nhân không tiến triển sau 4 chu kỳ atezolizumab, carboplatin và etoposide, phối hợp lurbinectedin với atezolizumab giúp kéo dài thời gian sống thêm so với duy trì atezolizumab đơn thuần.

Cần hiểu rằng các số liệu sống thêm của giai đoạn duy trì được tính từ thời điểm bệnh nhân hoàn thành hóa trị cảm ứng và được phân nhóm, không phải từ ngày bắt đầu điều trị ban đầu.

Tarlatamab trong bệnh tái phát

Tarlatamab là thuốc miễn dịch gắn kết tế bào T, nhắm vào DLL3 trên tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ.

Trong nghiên cứu đối đầu với hóa trị bước sau:

  • Trung vị sống thêm với tarlatamab khoảng 13,6 tháng.

  • Hóa trị chuẩn khoảng 8,3 tháng.

Thuốc có thể gây hội chứng giải phóng cytokine và độc tính thần kinh, do đó cần được sử dụng tại cơ sở có kinh nghiệm theo dõi và xử trí.

Những yếu tố giúp bệnh nhân sống lâu hơn

Thời gian sống của người bệnh không chỉ phụ thuộc vào tên thuốc. Những yếu tố có liên quan đến kết quả tốt hơn gồm:

  • Có đột biến gen phù hợp với thuốc đích.

  • Thể trạng ECOG còn tốt.

  • Khối lượng u thấp.

  • Chỉ có một hoặc vài ổ di căn.

  • Di căn não được kiểm soát.

  • Đạt đáp ứng sâu sau điều trị.

  • Tuân thủ điều trị và tái khám.

  • Duy trì dinh dưỡng và vận động phù hợp.

  • Xử trí tốt tác dụng phụ.

  • Có thể tiếp cận nhiều bước điều trị tiếp theo.

  • Xét nghiệm lại khi bệnh kháng thuốc.

Khi chỉ một vài tổn thương tiến triển trong khi phần lớn bệnh vẫn ổn định, bác sĩ có thể xạ trị hoặc phẫu thuật các ổ tiến triển và tiếp tục thuốc đang còn hiệu quả.

Người bệnh cần làm gì trước khi bắt đầu điều trị?

Đối với ung thư phổi giai đoạn 4, cần cố gắng hoàn thành những đánh giá quan trọng sau:

  1. Xác định chính xác loại mô bệnh học.

  2. Làm xét nghiệm gen diện rộng, ưu tiên NGS nếu phù hợp.

  3. Xét nghiệm PD-L1.

  4. Chụp MRI não.

  5. Đánh giá đầy đủ các vị trí di căn.

  6. Đánh giá thể trạng và bệnh nền.

  7. Hội chẩn đa chuyên khoa nếu có di căn ít.

  8. Lựa chọn đúng phác đồ ngay từ bước 1.

Đặc biệt, không nên vội dùng thuốc miễn dịch trước khi có kết quả gen ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến, người trẻ, người không hút thuốc hoặc có khả năng cao mang đột biến gen EGFR, ALK, ROS1 hay RET.

Kết luận: ung thư phổi giai đoạn 4 không còn chỉ được tính bằng vài tháng

So với hóa trị truyền thống, các phác đồ mới đã giúp kéo dài đáng kể thời gian sống của bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn 4:

  • Hóa trị đơn thuần: trung vị sống thêm thường khoảng 10–13 tháng.

  • Hóa trị kết hợp thuốc miễn dịch: khoảng 16–22 tháng tùy mô học.

  • Thuốc miễn dịch đơn trị ở nhóm PD-L1 cao: trung vị có thể trên 2 năm.

  • Có đột biến gen EGFR: nhiều bệnh nhân sống trên 3 năm.

  • Có dung hợp gen ALK: một tỷ lệ lớn bệnh nhân vẫn chưa tiến triển sau 5 năm.

  • Các đột biến RET, ROS1, MET, BRAF, HER2 và NTRK ngày càng có nhiều thuốc điều trị chính xác.

Thông điệp quan trọng nhất là:

Không thể dự đoán thời gian sống của một bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn 4 chỉ dựa vào giai đoạn bệnh.

Người bệnh cần được đánh giá đầy đủ về mô bệnh học, đột biến gen, PD-L1, vị trí di căn, thể trạng và khả năng điều trị tiếp theo. Việc lựa chọn đúng thuốc ngay từ bước 1, kiểm soát di căn não và xét nghiệm lại khi kháng thuốc có thể tạo ra khác biệt sống còn tính bằng nhiều năm.

Bài viết mang tính chất cung cấp thông tin. Phác đồ điều trị cần được bác sĩ chuyên khoa ung bướu cá thể hóa dựa trên hồ sơ cụ thể của từng bệnh nhân.

Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi từ hội nghị ASCO 2026

Cần tư vấn chuyên sâu về các thuốc điều trị ung thư phổi:
- ThS – BS Trần Khôi
- Bệnh viện Phổi Hà Nội – 44 Thanh Nhàn, Hai Bà Trưng
- Zalo: 0983 812 084 – Hotline: 0913 058 294
- Facebook: Bác sĩ Trần Khôi
- Kênh YouTube: Thạc sĩ Bác sĩ Trần Khôi – Chữa bệnh ung thư phổi